Trường Đại học Đà Lạt - 55 năm xây dựng và phát triển (1958 - 2013)

Trường Đại học Đà Lạt là một trường công lập được thành lập theo Quyết định số 426/TTg ngày 27 tháng 10 năm 1976 của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở Viện Đại học Đà Lạt, một trường tư thục thành lập trước 1975 và bắt đầu đào tạo đại học từ niên khóa 1958 – 1959.

Tính từ thời điểm 1958 đến nay, Trường Đại học Đà Lạt đã trải qua chặng đường 55 năm hình thành, đổi mới và phát triển. Trong quá trình đó, đặc biệt từ năm 1976 đến nay Trường luôn luôn là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học có uy tín, nhà trường liên tục đổi mới, phát triển toàn diện, có tên tuổi trên toàn quốc và thế giới. 

1.    Quá trình hình thành và tổ chức đào tạo của Viện Đại học Đà Lạt trước năm 1975

Viện Đại học Đà Lạt được khởi công xây dựng năm 1957 và năm học 1958 – 1959 bắt đầu tổ chức đào tạo đại học. Quy mô phát triển của Viện Đại học Đà Lạt đến trước năm 1975 bao gồm 5 trường (còn gọi là 5 khoa).

Trường Đại học Sư phạm là trường được thành lập đầu tiên, bắt đầu đào tạo từ năm học 1958 – 1959. Trường đào tạo cử nhân sư phạm cho những sinh viên hoàn thành chương trình 3 năm của các khoa khác trong nhà trường. Trường Đại học Khoa học bắt đầu đào tạo từ năm học 1959 – 1960, đã đào tạo cử nhân các ngành: Toán học, Vật lý, Lý – Hóa, Hóa học, Sinh – Lý – Hóa, Vạn vật và Địa chất học. Trường Đại học Văn khoa bắt đầu đào tạo từ năm học 1959 – 1960, đào tạo cử nhân các ngành: Việt văn, Triết học, Hán văn, Pháp văn, Anh văn, Lịch sử và Địa lý. Trường Chính trị Kinh doanh bắt đầu đào tạo từ năm học 1964 – 1965, đào tạo cử nhân các ngành: Bang giao quốc tế, Báo chí học, Kinh tế tài chính và Quản trị Kỹ nghệ. Trường Đại học Thần học bắt đầu đào tạo từ năm học 1973 – 1974.

Trường Đại học Văn khoa bắt đầu đào tạo Cao học từ năm học 1966 – 1967 với các ngành: Việt văn, Anh văn, Pháp văn, Hán văn, Triết học, Sử học và Địa lý. Trường Chính trị Kinh doanh bắt đầu đào tạo Cao học từ năm học 1968 – 1969, ngành Chính trị Kinh doanh.

Viện Đại học Đà Lạt thu hút sinh viên trên khắp địa bàn miền Nam đến học. Năm học đông sinh viên nhất là năm học 1973 – 1974 với gần 5.000 sinh viên. Tổng số sinh viên vào học từ khóa đầu đến năm học 1973 – 1974 khoảng 31.500 sinh viên, trong đó có khoảng 1.900 sinh viên đã tốt nghiệp được cấp bằng cử nhân.

Cơ sở đào tạo của Viện Đại học Đà Lạt khá khang trang, được xây dựng theo triết lý “Thụ nhân” và mô hình tổ chức, quản lý đào tạo từ Viện đến trường (khoa), đến các ban, kết hợp giữa giảng dạy lý thuyết và thực hành, thích ứng với môi trường tự nhiên và điều kiện thực tế đương thời. Đó là hành trang ban đầu trong tiến trình phát triển tiếp theo của Trường Đại học Đà Lạt.

PGS. TS. Nguyễn Đức Hòa – Hiệu trưởng đọc diễn văn Kỷ niệm 55 năm xây dựng và phát triển Trường Đại học Đà Lạt


2.    Sự ra đời và quá trình đổi mới, phát triển của Trường Đại học Đà Lạt

Sau khi đất nước thống nhất, để sắp xếp lại hệ thống đại học ở miền Nam trước năm 1975, tạo điều kiện cho các trường tiếp tục hoạt động, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 426/TTg, ngày 27 tháng 10 năm 1976 thành lập Trường Đại học Đà Lạt đặt tại địa điểm Viện Đại học Đà Lạt. Từ đó đến nay, Trường Đại học Đà Lạt liên tục đổi mới, phát triển từ một trường đại học tổng hợp đào tạo một số ngành khoa học tự nhiên đến một trường đại học đa ngành bao gồm các khối ngành khoa học tự nhiên - công nghệ, khoa học xã hội - nhân văn, khoa học kinh tế và đào tạo 4 cấp: Cao đẳng, Đại học, Cao học và Nghiên cứu sinh; là một trung tâm đào tạo hàng đầu ở khu vực Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung bộ và Đông Nam bộ. Có thể khẳng định, quá trình đổi mới, phát triển của Trường Đại học Đà Lạt từ năm 1976 đến nay mang tính thực tế, khách quan xuất phát từ đường lối đổi mới đào tạo của Đảng mà cơ quan trực tiếp chỉ đạo thực hiện là Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết hợp với nội lực của nhà trường qua các thời kỳ.

2.1. Quá trình đổi mới, mở rộng, điều chỉnh quy mô đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của khu vực và đất nước

Trong quyết định thành lập Trường Đại học Đà Lạt năm 1976 của Thủ tướng Chính phủ đã định hướng cụ thể chức năng, nhiệm vụ của trường là: “Đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật về một số ngành mũi nhọn, về một số ngành cần thiết cho hệ thống các Viện nghiên cứu khoa học đã và sẽ có ở Đà Lạt, vv…”. Với mục tiêu này, trong những năm đầu Trường được giao nhiệm vụ đào tạo một số ngành khoa học cơ bản về lĩnh vực khoa học tự nhiên với các ngành “mũi nhọn” như: Vật lý hạt nhân, Sinh học phóng xạ, Hóa phóng xạ và các ngành khoa học cơ bản khác là: Toán cơ bản, Toán ứng dụng, Vật lý điện tử, Hóa đại cương, Sinh học đại cương, Sinh học thực nghiệm. Chức năng ban đầu của Trường Đại học Đà Lạt là một trường khoa học cơ bản và Trường là một trong bốn trường đại học tổng hợp trên cả nước (Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Tổng hợp Huế, Đại học Đà Lạt). Khóa đầu tiên (1977-1981) trường tuyển sinh các ngành Toán học, Vật lý và Sinh học; khóa 2 (1978-1982) thêm ngành Hóa học. Chương trình đào tạo chủ yếu của các ngành dựa trên cơ sở chương trình đào tạo của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và các trường đại học tổng hợp của Liên Xô.Từ tuyển sinh đến quá trình đào tạo và sinh viên tốt nghiệp ra trường được thực hiện theo hướng đào tạo chọn lọc, “tinh hoa” nên quy mô đào tạo của trường còn rất khiêm tốn.

Từ năm 1982 – 1983, Trường được giao thêm nhiệm vụ đào tạo các ngành khoa học cơ bản thuộc khối khoa học xã hội trên tinh thần chủ trương của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) là ở khu vực Tây Nguyên đào tạo khoa học cơ bản cần tập trung trong một trường. Vì vậy, tháng 8 năm 1982 Trường tiếp nhận khoa Sư phạm từ trường Đại học Tây Nguyên (đóng ở Đắk Lắk) chuyển đến, trong đó có ngành Sư phạm Văn đã được đào tạo từ khóa I (năm học 1977 – 1978) và bắt đầu xây dựng đội ngũ giảng viên ngành Lịch sử. Bắt đầu từ đây, tức là từ năm học 1982 – 1983 Trường tiếp tục hòan thành việc đào tạo 3 khóa 3-4-5 và tiến hành tuyển sinh khóa mới – khóa 6 ngành Văn bao gồm Sư phạm Văn và Tổng hợp Văn (nay gọi là ngành Sư phạm Ngữ văn và ngành Văn học).Có thể nói, đây là mốc quan trọng để Trường Đại học Đà Lạt mở rộng đào tạo, đa dạng hóa ngành nghề; vừa từng bước mở thêm các ngành khoa học xã hội, vừa đào tạo các ngành khoa học cơ bản theo mô hình của các trường đại học tổng hợp kết hợp mô hình các trường đại học sư phạm. Việc mở rộng đào tạo thích hợp với thực tế nhà trường thời kỳ bao cấp: kinh phí Nhà nước cấp hạn hẹp, các ngành khoa học xã hội yêu cầu về đầu tư kinh phí không lớn như các ngành khoa học tự nhiên và các ngành kỹ thuật. Phương thức đào tạo kết hợp giữa đào tạo cử nhân tổng hợp và cử nhân sư phạm của Trường Đại học Đà Lạt thời kỳ này (1982) đến nay đã hơn 30 năm, thể hiện rõ tính ưu việt, linh hoạt của một trường đại học cơ bản khi mở rộng ngành nghề đào tạo.

Với đường lối đổi mới của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), thực hiện chủ trương đổi mới đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Đà Lạt đã nhanh chóng mở rộng ngành nghề và hình thức đào tạo. Ngay trong năm học 1986 – 1987, Trường bắt đầu tuyển sinh đào tạo tại chức, đào tạo liên ngành, đào tạo theo hai giai đoạn. Các hình thức đào tạo này đã tạo điều kiện cho Trường Đại học Đà Lạt  - một trường đại học đào tạo khoa học cơ bản có điều kiện liên kết đào tạo với 4 trường đại học chuyên ngành ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là liên kết với trường Đại học Nông lâm mở ngành Trồng trọt, Chăn nuôi thú y, Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế lâm nghiệp; liên kết với trường Đại học Tài chính – Kế toán mở ngành Ngân sách nhà nước, Tài chính kế toán; liên kết với trường Đại học Kinh tế mở ngành Kế hoạch hóa, Kinh tế quốc dân, Kinh tế công nghiệp, Kinh tế thương nghiệp; liên kết với trường Đại học Y dược mở ngành Dược học.

Do sự linh hoạt, mềm dẻo của hình thức đào tạo, từ năm học 1987 – 1988 Trường Đại học Đà Lạt đã liên kết với nhiều trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh mở đào tạo hệ tại chức nhiều ngành nghề khác nhau ở Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang, Bảo Lộc; chuyển giao nhiều sinh viên khối B về học giai đoạn chuyên ngành ở Đại học Nông lâm và Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Sự liên kết đào tạo, đào tạo hai giai đoạn, đào tạo liên ngành giữa các trường đại học trong thời điểm này là mới mẻ trong ngành giáo dục đại học Việt Nam. Quá trình thực hiện đã được sự đồng thuận, chia sẻ của nhiều nhà giáo có tên tuổi trên cả nước và của người học trong khu vực. Có thể khẳng định đây là sự đổi mới tư duy đào tạo của Ban Giám hiệu nhà trường thời kỳ này, là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển, mở rộng quy mô đào tạo của nhà trường trong những thời kỳ tiếp theo.

Trong những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, quá trình mở rộng ngành nghề, tăng quy mô đào tạo của trường Đại học Đà Lạt diễn ra với những bước phát triển nhảy vọt. Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép Trường mở ngành Quản trị kinh doanh năm 1990, ngành Anh văn năm 1992. Do ngành nghề được mở rộng đã đáp ứng nhu cầu xã hội cho nên đã thu hút người học làm cho lượng sinh viên tăng khá nhanh. Trước năm 1990 tổng số sinh viên khoảng 1.200, đến năm học 1995 – 1996 tăng gấp 7 lần, đưa tổng số sinh viên toàn trường lên 8.900 sinh viên. Sự đột phá đào tạo của trường Đại học Đà Lạt trong giai đoạn này là đào tạo theo tín chỉ và sử dụng phương thức thi trắc nghiệm. Năm học 1994 – 1995, Trường Đại học Đà Lạt bắt đầu đào tạo theo phương thức kết hợp mềm dẻo giữa đào tạo theo tín chỉ và đào tạo theo niên chế, trong đó đào tạo theo tín chỉ là cốt lõi.

Từ năm 1999 đến năm 2007 nhiệm vụ trọng tâm về đào tạo của Trường vẫn là đa dạng hóa ngành nghề, bậc đào tạo; mở rộng liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo ở các tỉnh khu vực Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung bộ và Đông Nam bộ. Nhiều ngành đào tạo mới được mở như Khoa học Môi trường (2000), Luật học (2001), Xã hội học, Quốc tế học, Văn hóa học, Kế toán, Du lịch... Đặc biệt một số ngành kỹ thuật, công nghệ cũng được bắt đầu đào tạo như Nông học, Công nghệ sau thu hoạch, Công nghệ sinh học, Công nghệ thông tin và Công nghệ kỹ thuật Điện tử – Viễn thông.

Từ năm 2008 đến nay Trường chú trọng ưu tiên đầu tư đối với các ngành phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của khu vực Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung bộ, Đông Nam bộ và các ngành công nghệ như Nông học, Công nghệ Sau thu hoạch, Công nghệ sinh học, Công nghệ kỹ thuật Điện tử -Viễn thông, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật hạt nhân,…Trong định hướng phát triển đào tạo của Trường, sẽ xây dựng một số khoa, ngành trở thành những ngành mũi nhọn, trọng điểm, chất lượng cao, kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Về đào tạo Cao học, từ năm học 1993 – 1994 Trường bắt đầu đào tạo thạc sĩ đối với các ngành Toán học, Vật lý, Sinh học. Năm học 1994 – 1995 trường liên kết với Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đào tạo thạc sĩ ngành Văn học Việt Nam và chuẩn bị chương trình đào tạo thạc sĩ các ngành Lịch sử và Hóa học, xúc tiến để liên kết đào tạo thạc sĩ ngành Quản trị kinh doanh. Việc đào tạo Sau Đại học đã giúp cho công tác bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ giảng dạy của nhà trường được tăng cường. Vì vậy đến những năm cuối thế kỷ XX trường đã có 61% cán bộ giảng dạy có trình độ trên đại học. Đặc biệt năm 2005 trường đã được Chính phủ cho phép đào tạo tiến sĩ. Sau 20 năm đào tạo Sau đại học với 18 khóa tốt nghiệp, Trường đã cấp bằng cho 891 thạc sĩ  thuộc 7 chuyên ngành và 01 tiến sĩ chuyên ngành Toán Giải tích.

Hiện nay mô hình đào tạo của Trường Đại học Đà Lạt cơ bản ổn định với 44 ngành đào tạo thuộc các khối ngành khoa học tự nhiên – công nghệ, xã hội nhân văn, kinh tế và sư phạm với 4 bậc đào tạo hệ chính quy: Cao đẳng (4 ngành), Đại học (32 ngành), Cao học (07 ngành), Tiến sĩ (1 ngành). Tính từ năm 2000 – 2013 có 36.891 sinh viên đại học hệ chính quy trúng tuyển đã nhập học. Nếu tính từ 1981 đến 2013, có 43.396 cử nhân và kỹ sư đã tốt nghiệp đại học chính quy tại Trường Đại học Đà Lạt. Riêng nhiệm kỳ 2008 – 2013, đã có 14.013 cử nhân và kỹ sư tốt nghiệp đại học chính quy, trong đó có 12 xuất sắc, 616 Giỏi và 5.190 xếp loại khá.

Cùng với đào tạo tại chỗ, nhà trường đã liên kết với hơn 40 cơ sở đào tạo ở các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung bộ và Đông Nam bộ để tổ chức đào tạo hệ thường xuyên. Nếu từ năm 1985 - 2004, tuyển sinh được 13.323 sinh viên thì từ năm 2005 đến nay Trường đã tuyển sinh được 27.811 sinh viên hệ đào tạo thường xuyên nhằm đào tạo cán bộ có trình độ cao cho Tây Nguyên và vùng phụ cận, thực hiện chủ trương xây dựng một xã hội học tập và thỏa mãn nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân.

2.2.     Xây dựng cơ cấu tổ chức và đội ngũ công chức, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên phù hợp với việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học

Sau khi Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập trường ngày 27 tháng 10 năm 1976, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ra quyết định bổ nhiệm Ban Xây dựng trường gồm 3 người: TS. Trần Thanh Minh (Trưởng ban), PTS. Phạm Bá Phong (Ủy viên), CN. Nguyễn Hữu Mỹ (Ủy viên).

Ngoài Ban điều hành, đội ngũ cán bộ công chức ban đầu có gần 10 người do Bộ điều động đến và có 5 giáo chức cơ hữu, khoảng 10 cử nhân, nhân viên phục vụ của Viện Đại học Đà Lạt ở lại làm việc. Vì vậy, việc tìm kiếm, thu hút cán bộ về trường để xây dựng bộ máy, tăng cường đội ngũ cán bộ giảng dạy và phục vụ là nhiệm vụ được quan tâm hàng đầu. Do đó, sau hơn một năm, tức là đến năm học tiếp theo (1978-1979) số cán bộ công chức đã lên đến hơn 100 người và Trường đã tuyển sinh thêm ngành Hóa học. Đến những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, mặc dù đội ngũ cán bộ công chức còn thiếu và chỉ có một số cán bộ lãnh đạo trường và các khoa có trình độ cao, lãnh đạo trường vẫn quyết tâm đề ra và thực hiện chủ trương cử giảng viên ( lúc đó gọi là cán bộ giảng dạy)  đi thực tập, nghiên cứu sinh trong nước và nước ngoài. Chủ trương này đã xuyên suốt trong quá trình xây dựng, phát triển nhà trường. Từ chủ trương đúng đắn này, Trường đã chuẩn bị kịp thời cho việc chuyển giao các thế hệ, mở rộng ngành nghề, nâng cấp đào tạo trong các giai đoạn sau. Nhiều giảng viên có trình độ cao, nhiều PGS., TS. của Trường hiện nay trưởng thành từ chủ trương này, trong đó có các Hiệu trưởng kế nhiệm và Hiệu trưởng đương nhiệm (nhiệm kỳ 2008 – 2013).

Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công chức nói chung, giảng viên nói riêng của nhà trường được thúc đẩy nhanh, toàn diện bắt đầu từ khi trường được Bộ cho phép đào tạo Sau đại học từ năm học 1993-1994 trở đi. Hơn 70% giảng viên của các khoa có đào tạo Sau đại học tại trường đều tham gia học cao học. Một số khác đi làm nghiên cứu sinh trong nước và nước ngoài.

Trước khi được đào tạo Sau đại học, trường có 180 cán bộ công chức, trong đó có 146 người có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Tổng số giảng viên lúc này là 121 người, trong đó chỉ có 19% là PGS, TS, GVC. Sau hơn 6 năm có đào tạo Sau đại học tức là vào năm 2000 trường có 290 cán bộ công chức, trong đó có 205 giảng viên. Số giảng viên có trình độ PGS.TSKH, TS, ThS, GVC là 53%. Đến năm 2005 tỷ lệ này là 68%.

Song song với việc bồi dưỡng nâng cao trình độ của giảng viên, việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công chức khối hành chính sự nghiệp cũng được nhà trường chú trọng. Từ năm 2000 đến nay nhiều chuyên viên ở các khoa, phòng ban được nhà trường cử đi học và được nhận học vị thạc sĩ, trong đó có nhiều người đạt chuẩn đã được xét chuyển ngạch giảng viên. Tính đến 30/9/2013, Trường có 343 GV/510 cán bộ cơ hữu, trong đó có 8 PGS, 37 Tiến sỹ và 189 ThS.

Nhìn chung, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, đặc biệt là đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Đà Lạt từ năm 1976 đến nay luôn luôn được các nhiệm kỳ Hiệu trưởng chú trọng, coi đây là nguồn lực của mọi nguồn lực để xây dựng nhà trường, thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo nhân lực có trình độ cao cho đất nước. Mọi thành tựu của nhà trường đều do sự phát huy trí tuệ, tâm huyết với sự nghiệp đào tạo của các thế hệ cán bộ, công chức nhà trường.

2.3.     Nghiên cứu khoa học kết hợp với nâng cao chất lượng đào tạo

Nhiệm vụ trọng tâm của Trường Đại học Đà Lạt cũng như đa số các trường đại học trên thế giới là đào tạo nhân lực có trình độ cao và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế -xã hội. Trong 55 năm xây dựng và phát triển, ở bất cứ giai đoạn nào công tác nghiên cứu khoa học của nhà trường cũng được chú trọng song song với công tác đào tạo.

Thời kỳ 1958 – 1975 khi trường mang tên Viện Đại học Đà Lạt, việc nghiên cứu khoa học chủ yếu tập trung vào nghiên cứu khoa học cơ bản phục vụ giảng dạy. Kết quả nghiên cứu của giáo chức cơ hữu chủ yếu được công bố trên các ấn phẩm nội bộ của nhà trường như: tạp chí Tri thức, tạp chí Sử - địa,…

Từ năm 1976 đến nay công tác nghiên cứu khoa học nhìn chung phát triển đồng thời với quá trình mở rộng quy mô đào tạo và thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước là nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh khu vực Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung bộ và Đông Nam bộ.

Giai đoạn 1976 – 1985 công tác nghiên cứu khoa học của trường dù sao cũng còn hạn chế. Đây là giai đoạn mà đội ngũ giảng viên đa số mới tốt nghiệp đại học từ các trường đại học trong nước và nước ngoài đến nhận công tác. Vì vậy mục đích của công tác nghiên cứu khoa học tập trung vào việc bồi dưỡng cán bộ trẻ và phục vụ biên soạn giáo trình.

Từ năm 1986 trở đi, trên tinh thần chủ trương đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI bức tranh về đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường ngày một khởi sắc. Công tác nghiên cứu khoa học của cán bộ và sinh viên được các thế hệ lãnh đạo chú trọng, xem đó là một hoạt động quan trọng của nhà trường. Định hướng nghiên cứu khoa học được đề ra cụ thể cho các khoa, ngành đào tạo như nghiên cứu ứng dụng (các khoa Toán học, Vật lý), nghiên cứu chuyển giao công nghệ (các khoa Hóa học, Sinh học, Nông lâm), nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên khu vực Tây Nguyên (Khoa Sinh học), nghiên cứu văn học dân gian và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Tây Nguyên (khoa Ngữ văn), nghiên cứu lịch sử địa phương, dân tộc học khu vực Tây Nguyên (khoa Lịch sử),…Nhiều hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với các tỉnh, các viện nghiên cứu, các trường đại học trong nước và nước ngoài được ký kết thực hiện.  Chỉ tính riêng nhiệm kỳ 2008 -2013 đã có 228 bài báo khoa học được công bố trên tạp chí trong và ngoài nước.

Nhìn chung công tác nghiên cứu khoa học của Trường đạt thành tựu đáng kể, cùng với thành tựu về đào tạo đã góp phần nâng cao uy tín của Trường Đại học Đà Lạt trên toàn quốc và thế giới.

2.4.     Mở rộng quan hệ quốc tế gắn với việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học

Viện Đại học Đà Lạt trước năm 1975 chủ yếu quan hệ với các tổ chức xã hội và đào tạo, nghiên cứu khoa học ở Mỹ, Pháp, Tây Đức, Thái Lan, Hàn Quốc,… Mục đích của quan hệ là thu hút tài trợ và thỉnh giảng phục vụ đào tạo.

Từ năm 1976 quan hệ quốc tế của Trường Đại học Đà Lạt luôn luôn được các thế hệ lãnh đạo nhà trường chú trọng với mục đích: Gửi giảng viên đi thực tập sinh và nghiên cứu sinh, mời các giáo sư có uy tín đến trường tham gia đào tạo, nhận tài trợ trang thiết bị phục vụ đào tạo và học bổng sinh viên. Từ khoảng 10 năm trở lại đây Trường bắt đầu trao đổi giảng dạy theo hai chiều với một số trường đại học ở Tây Âu và Đông Bắc Á.

Thời kỳ 1976 – 1985 chủ yếu Trường có quan hệ với các nước ở châu Âu như Liên xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Pháp… Quan hệ quốc tế lúc này phần lớn thông qua Bộ chủ quản và một số lãnh đạo trường đã từng học tập, công tác ở châu Âu. Mục đích của quan hệ là làm cơ sở để gửi giảng viên đến thực tập và nghiên cứu sinh. Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đến nay quan hệ quốc tế của nhà trường ngày càng mở rộng, đặc biệt là từ khi Đảng có chủ trương “Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước”. Trong 15 năm gần đây công tác quan hệ quốc tế của nhà trường đa dạng và có chiều sâu, đã thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều trường đại học, các tổ chức xã hội thuộc nhiều nước trên thế giới. Thành quả đạt được trong công tác này tuy còn chưa tương xứng với sự phát triển của nhà trường, nhưng đã hỗ trợ tích cực cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và giới thiệu trường Đại học Đà Lạt với bạn bè trên thế giới, góp phần nâng cao uy tín của nhà trường.

2.5.     Xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo tài chính cho đào tạo và nghiên cứu khoa học

Nền tảng cơ sở vật chất ban đầu của Trường Đại học Đà Lạt do Viện Đại học Đà Lạt trước năm 1975 gây dựng. Từ ngày được tái lập (27/10/1976) đến nay cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường liên tục phát triển, đổi mới theo hướng hiện  đại hóa.

Cơ ngơi do Viện Đại học Đà Lạt để lại trên khuôn viên khoảng 38 ha và hơn 40 tòa nhà lớn nhỏ, phần lớn là nhà cấp 4 dùng làm giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, nơi làm việc hành chính, chỗ ở của giáo chức, khu nội trú sinh viên, nhà ăn, căn-tin, … Các giảng đường được trang bị phương tiện khá tốt so với yêu cầu giảng dạy và học tập lúc bấy giờ. Thư viện với hàng vạn cuốn sách bao gồm nhiều chủng loại. Các phòng thí nghiệm đại cương mặc dù còn khiêm tốn nhưng là cơ sở thực tập rất cần thiết cho việc đào tạo… Vì vậy ngay sau khi tái lập, Trường sẵn sàng thực hiện ngay nhiệm vụ đào tạo một cách thuận lợi.

Từ năm 1976 đến 1989, do kinh phí được cấp có phần hạn hẹp trong bối cảnh khó khăn chung, công tác đào tạo đã phát triển nhưng vẫn còn ở quy mô nhỏ cho nên về cơ bản cơ sở vật chất của nhà trường chỉ được tu sửa, giữ gìn, chống xuống cấp. Đến những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX quy mô đào tạo phát triển nhanh, trước năm 1990 là hơn 1.000 sinh viên nhưng đến năm 1995 là 8.900 sinh viên. Do đó việc xây dựng thêm giảng dường, tăng cường trang thiết bị thí nghiệm, sách thư viện,… được đặt ra cấp bách. Trên cơ sở nguồn tài chính do Bộ chủ quản cấp và vốn tự có, nhà trường đã huy động hàng chục tỷ đồng để cải tạo và xây dựng mới khu nhà liên hoàn hai tầng bao gồm giảng đường và hội trường A8B, giảng đường hai tầng A30, giảng đường ba tầng A27, khu nhà thể thao đa năng, … với tổng diện tích sử dụng hơn 5.000 m2.

Từ năm 2000 đến nay quy mô đào tạo ngày càng được mở rộng, khối ngành khoa học tự nhiên-công nghệ được tăng cường đòi hỏi sự phát triển cơ sở vật chất phải chú trọng toàn diện, từng bước hiện đại hóa. Trong khoảng 10 năm trở lại đây nhà trường đã xây dựng xong và đang xây dựng nhiều khu nhà liên hợp với hạng mục cao cấp và trang thiết bị hiện đại. Đáng chú ý là khu nhà liên hợp cao tầng của sinh viên khu nội trú với diện tích sử dụng là 3.000 m2 được trang bị tiện nghi hiện đại, sẽ là chỗ ở đạt chuẩn cho cả sinh viên Việt Nam và sinh viên nước ngoài đến học tập. Trung tâm Thông tin-Thư viện cao tầng có diện tích sử dụng hơn 8.000 m2 được đầu tư hệ thống thiết bị điện tử và phần mềm nghiệp vụ thư viện hiện đại, được điện tử hóa và có nguồn thông tin điện tử khá phong phú, được đánh giá là một trong những thư viện đại học hiện đại quy mô nhất hiện nay. Khu giảng đường hai tầng A7 được cải tạo nâng cấp, khu liên hợp thí nghiệm cao tầng A11, khu giảng đường cao tầng A31 được khởi công xây dựng vào quý IV năm 2008 đến nay đã được đưa vào sử dụng. Các trang thiết bị phục vụ đào tạo có nhiều hạng mục đạt chuẩn cao.

Nhìn chung cơ sở vật chất và tài chính của Trường Đại học Đà Lạt hiện nay đã thích ứng và đảm bảo cho quy mô đào tạo 44 ngành nghề của các bậc đào tạo từ Cao đẳng, Đại học, Cao học đến Nghiên cứu sinh.


 

3.    Nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2013 – 2020, tầm nhìn đến 2030

            Như đã khẳng định, Trường Đại học Đà Lạt là một trường đại học hàng đầu trong khu vực Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung bộ, Đông Nam bộ chuyên đào tạo và nghiên cứu khoa học-chuyển giao công nghệ chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt là địa bàn Tây Nguyên, là trường đại học được xếp hạng cao trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Trường Đại học Đà Lạt là một địa chỉ cung cấp đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn có chất lượng, đáng tin cậy cho khu vực Tây Nguyên và vùng phụ cận cũng như cho cả nước. 

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, trong thời gian tới Trường Đại học Đà Lạt sẽ nỗ lực thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm cơ bản sau đây:

a. Có chiến lược và chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ nhằm chuẩn hóa và quy hoạch chuyên môn đối với đội ngũ giảng viên; đầu tư, hỗ trợ, tài trợ phát triển đội ngũ có năng lực giảng dạy, nghiên cứu khoa học-chuyển giao công nghệ, có trình độ ngoại ngữ -tin học cao và có khả năng hội nhập quốc tế; có giải pháp mạnh hỗ trợ đội ngũ ứng viên PGS., nghiên cứu sinh và học viên cao học.

b. Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học theo tinh thần Nghị quyết Trung ương lần thứ 8 (khóa XI), hoàn thiện hệ thống tín chỉ, tiến hành đánh giá và phát triển chương trình đào tạo ; đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; đổi mới việc đánh giá giảng viên, chuyên viên và đánh giá sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng quản lý và phục vụ.

c. Chuyển dịch Trường Đại học Đà Lạt từ mô hình đào tạo truyền thống sang một trường đại học định hướng nghiên cứu; xây dựng một số phòng thí nghiệm hợp chuẩn quốc gia có khả năng nghiên cứu khoa học sâu, có khả năng tạo nên những giá trị mới về nghiên cứu khoa học, về sản phẩm công nghệ cũng như có khả năng tạo nên những dịch vụ thích ứng, đáp ứng thị trường; tập hợp đội ngũ các nhà khoa học trong và ngoài trường góp phần giải quyết một số vấn đề trọng điểm về khoa học - công nghệ, về kinh tế - xã hội của các địa phương trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên và vùng phụ cận.

d. Đổi mới công tác quản lý, cải cách hành chính nhà trường theo hướng triệt để sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý để đảm bảo tính hiệu quả và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; xây dựng một số khoa trọng điểm, ngành đào tạo trọng điểm để đảm bảo đào tạo có chất lượng và là mẫu hình cho mọi hoạt động mang tầm đại học.

e. Xây dựng chiến lược cải thiện văn hóa tổ chức, văn hóa trường đại học, văn hóa đào tạo, văn hóa chất lượng để tạo nên một môi trường đoàn kết, thân thiện và trách nhiệm cao của từng thành viên của nhà trường nhằm đảm bảo sự dân chủ thực sự trong đại học.

g. Mở rộng các mối quan hệ hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo trong và ngoài nước; tăng cường các dịch vụ, các loại hình thu, tăng cường tính tự chủ về tài chính trong một đơn vị sự nghiệp có thu, đảm bảo sự hài hòa của mô hình trường đại học trong cơ chế thị trường.

h. Hợp tác toàn diện với các địa phương, các sở-ban-ngành liên quan của các tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận, đặc biệt phải thực sự là một phần không thể tách rời của tỉnh Lâm Đồng; đề xuất Tỉnh hỗ trợ quỹ đất, qũy nhà ở chung cư cho giảng viên và tiến sĩ nhằm tạo nên sự ổn định, yên tâm công tác lâu dài của giảng viên, chuyên viên và người lao động.

4. Kết luận

Để góp phần cùng toàn ngành Giáo dục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XI về đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi Trường Đại học Đà Lạt phải năng động, sáng tạo, có kế hoạch và lộ trình phù hợp phát huy tối đa thế mạnh và mũi nhọn của trường mình trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cũng như hợp tác quốc tế. Phải thực hiện tốt các quy định của Luật Giáo dục Đại học, mạnh dạn từng bước thực hiện lộ trình tự chủ đại học để có cơ sở xây dựng Trường Đại học Đà Lạt trở thành một đại học nghiên cứu. Để thực hiện được các nhiệm vụ căn bản đó, hy vọng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho Trường Đại học Đà Lạt các cơ chế phát triển mang tính ưu tiên theo chủ trương ưu tiên đầu tư mà Thủ tướng Chính phủ đã xác định. Đề nghị tỉnh Lâm Đồng nhìn nhận đội ngũ giáo sư, tiến sĩ của trường là đội ngũ khoa học của tỉnh nhà để cùng khai thác, tạo cơ hội cống hiến cũng như nhận được sự ưu ái trong khả năng có thể có được của địa phương.

            Từ sau ngày Đất nước thống nhất đến nay, Trường Đại học Đà Lạt đã trải qua biết bao khó khăn, vất vả. Đạt được thành tựu như đã trình bày trên đây là nhờ sự quan tâm của các Bộ-ban-ngành Trung ương, đặc biệt là của lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo; sự phối hợp chặt chẽ của tỉnh Lâm Đồng và các địa phương ở Tây Nguyên, Nam Trung bộ và Đông Nam bộ; sự cộng tác của các nhà nghiên cứu và các vị thỉnh giảng của các viện khoa học, các cơ quan, các trường đại học Việt Nam và quốc tế; các nhà tài trợ hảo tâm; sự lãnh đạo của các nhiệm kỳ Đảng ủy – Ban Giám hiệu, sự đồng lòng nhất trí của các thế hệ cán bộ, giảng viên và lớp lớp sinh viên nhà trường. Đến nay, Trường Đại học Đà Lạt đã có một cơ sở vật chất khá khang trang, hiện đại, một đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ quản lý đáp ứng được các nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Nhân dịp Kỷ niệm 55 năm Trường Đại học Đà Lạt, thay mặt cán bộ giảng viên, các nhà khoa học, các viên chức và người lao động, tôi trân trọng gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ-ban-ngành Trung ương; lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, các Sở-ban-ngành các địa phương; các Viện khoa học, các trường đại học, các cá nhân và cơ quan, đòan thể, hiệp hội nghề nghiệp trong nước và quốc tế ; các vị Viện trưởng Viện Đại học Đà Lạt, các vị Hiệu trưởng tiền nhiệm và các thế hệ lãnh đạo Trường Đại học Đà Lạt; các thế hệ cán bộ, giảng viên, thỉnh giảng, công nhân viên, sinh viên các khóa, các khoa ngành đã góp phần vào quá trình xây dựng, đổi mới và phát triển Trường Đại học Đà Lạt.

Nhìn lại chặng đường 55 năm đã đi qua, tập thể giảng viên, cán bộ khoa học, viên chức, người lao động và sinh viên nhà trường tiếp tục đoàn kết, cùng chung sức xây dựng trường, xây dựng uy tín đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường ngày càng cao và ổn định bền vững trong giai đoạn mới - một giai đoạn đầy những khó khăn thách thức. Chúng ta tin tưởng rằng sẽ vượt qua tất cả để đi lên vì Trường Đại học Đà Lạt có một tập thể đoàn kết, có tấm lòng cao cả và có năng lực cống hiến, như lời Bác Hồ đã dạy “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công!”.

PGS.TS. Nguyễn Đức Hòa - Hiệu trưởng


Trường ĐHĐL

Các tin khác